Phân tích lý thuyết về tác động của Hiệp định thương mại tự do (FTA):Các quan điểm khác nhau

In
PDF.

LTS: Khoa Quốc tế học nhận được nhiều bài nghiên cứu của các thầy/cô trong khoa. Các bài nghiên cứu đều đã được đăng trong các kỉ yếu hội thảo và tạp chí có chỉ số ISSN trong nước. Xin trân trọng giới thiệu với thầy/cô và các bạn loạt bài của PGS.TS.Bùi Thành Nam. Vui lòng tham khảo và trích nguồn rõ ràng vì bản quyền thuộc về tác giả và khoa Quốc tế học.

-----------------

Hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do FTA đang trở thành xu thế phổ biến. Thống kê cho thấy FTA chiếm tới 85% trong số các hình thức hội nhập kinh tế toàn cầu. Khi tham gia vào một FTA nào đó, nền kinh tế – xã hội các nước thành viên sẽ chịu nhiều tác động nhất định, trong đó quan trọng nhất là hai loại hình tác động gồm các tác động tĩnh (static effects) và các tác động động (dynamic effects). Những tác động được phân tích dưới đây có thể lôi kéo các nước tham gia vào tiến trình tự do hoá thương mại nhờ những lợi ích nhiều chiều mà nó mang lại. Tuy nhiên, những tác động trên cũng có thể gây ra những hiệu ứng không tốt khiến việc tham gia FTA với bất cứ giá nào không phải là phương án tối ưu đối với tất cả các nước.

1. Tác động kinh tế và thương mại của FTA

Tác động tĩnh

Tác động tĩnh được hiểu là những tác động sẽ diễn ra trong bất cứ một liên kết thương mại tự do nào, đối với bất cứ thành viên nào. Các tác động tĩnh bao gồm: tác động tạo thương mại (trade creation effects) và tác động chuyển hướng thương mại (trade diversion effects).

            Tác động tạo thương mại sẽ xuất hiện khi một nước thành viên của FTA thay thế việc sản xuất một mặt hàng nội địa có chi phí sản xuất cao nào đó bằng việc nhập khẩu mặt hàng đó rẻ hơn từ các nước thành viên FTA, do việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan khiến giá hàng hoá nhập khẩu thấp hơn chi phí cho việc sản xuất mặt hàng đó ở trong nước. Tác động tạo thương mại sẽ làm tăng phúc lợi kinh tế tổng hợp của các  nước thành viên FTA do việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cắt giảm các ngành ít hiệu quả, sử dụng nhiều tài nguyên sang tăng cường xây dựng đầu tư vào các ngành công nghiệp dựa trên những lợi thế so sánh. Trong bất cứ FTA nào, tác động tạo thương mại được đặt ở một vị trí quan trọng bởi nó tạo ra cái “mới” trong quan hệ thương mại của một nước khi tham gia hội nhập bằng hình thức này.

            Tác động tạo thương mại sẽ giúp người tiêu dùng thu được nhiều lợi ích vì được mua hàng hoá với giá thấp hơn. Trong khi đó, tác động tạo thương mại đối với chính phủ và các doanh nghiệp sản xuất nội địa không có cùng kết quả như vậy. Ngân sách chính phủ sẽ giảm sút do mất đi một phần từ nguồn thu thuế nhập khẩu; các nhà sản xuất nội địa cũng sẽ giảm lợi nhuận do đứng trước sự cạnh tranh gay gắt và thị phần bị chia sẻ cho các DN nước ngoài. Tuy nhiên, khi tổng hợp lại thì những tác động tạo thương mại vẫn giúp gia tăng phúc lợi quốc gia do thặng dư mà người tiêu dùng nhận được vẫn lớn hơn giá trị mất đi từ nguồn thuế của chính phủ và lợi nhuận của nhà sản xuất nội địa.

            Tác động chuyển hướng thương mại diễn ra khi các thành viên của FTA chuyển hướng nhập khẩu hàng hoá, thay vì hàng hoá có hiệu quả nhờ chi phí sản xuất thấp từ các quốc gia không phải thành viên FTA sang hàng hoá có chi phí sản xuất cao hơn, dĩ nhiên là kém hiệu quả hơn về phương diện sử dụng nguồn lực, của các thành viên FTA. Việc dỡ bỏ thuế quan giữa các nước thuộc một FTA sẽ khiến giá nhập khẩu một mặt hàng nào đó từ các thành viên FTA thấp hơn giá nhập từ nước nằm ngoài FTA, do nước nhập khẩu vẫn duy trì một mức thuế quan cao đối với các nước không phải thành viên của FTA. Thực chất là tác động chuyển hướng thương mại không tạo ra cái “mới” trong quan hệ thương mại của một nước mà nó chỉ thay đổi đối tác thương mại của quốc gia đó mà thôi. Trong trường hợp này các nước phi thành viên sẽ bị thiệt hại từ việc thành lập một FTA nào đó. Như vậy tác động của chuyển hướng thương mại sẽ tạo ra sự phân biệt đối xử đối với các nước phi thành viên.

            Tác động chuyển hướng thương mại cũng tương tự như trong trường hợp của sáng tạo thương mại. Khi chuyển hướng thương mại xảy ra, người tiêu dùng vẫn có lợi do vẫn được mua hàng với giá rẻ hơn so với hàng hoá đó được sản xuất nội địa; các nhà sản xuất thì mất lợi nhuận do giá cả cạnh tranh và mất thị phần nội địa; ngân sách chính phủ cũng không thu được thuế vốn được áp dụng cho mặt hàng nhập khẩu đó. Tuy nhiên, trong trường hợp này phúc lợi ròng của xã hội sẽ bị ảnh hưởng khi tổng lợi ích mà người tiêu dùng nhận được không bao hàm toàn bộ những mất mát mà DN nội địa cũng như chính phủ phải gánh chịu.

            Xét một cách tổng quát, khi tham gia một FTA nào đó quan hệ thương mại của các nước thành viên sẽ gia tăng nhờ tác động tạo thương mại (cái mới) và tác động chuyển hướng thương mại (cái cũ với đối tác mới). Tổng hợp tác động sáng tạo thương mại và chuyển hướng thương mại sẽ có hai trường hợp xảy ra: (1) nếu tổng giá trị mất đi do tác động chuyển hướng thương mại gây ra lớn hơn so với thặng dư do tác động sáng tạo thương mại tạo ra thì phúc lợi quốc gia sẽ bị suy giảm, và ngược lại, (2) quốc gia đó sẽ gia tăng được phúc lợi quốc gia khi giá trị thặng dư do tác động sáng tạo thương mại tạo ra lớn hơn tổng giá trị bị mất của tác động chuyển hướng thương mại. Khung khổ lý thuyết này có thể lý giải thực tiễn của các FTA hiện nay. Trong khi một số FTA tỏ ra không hiệu quả thì các FTA khác lại đang trở thành lực hút, lôi kéo các nước khác tham gia vào cuộc chơi thương mại tự do.

 Nói một cách khái quát, khi một FTA được ký kết những tác động mà nó gây ra có thể sẽ khiến chính sách của nhiều nước liên quan thay đổi. FTA không chỉ tác động tới các nước thành viên và còn gián tiếp  tác động tới các nước phi thành viên. Việc bị phân biệt, đối xử và lợi ích mà những nước phi thành viên bị mất (do tác động chuyển hướng thương mại sang các nước FTA) có thể tạo ra những biến động trong phong trào FTA.  Điều này có thể dẫn tới hai hệ quả là thứ nhất các nước phi thành viên sẽ lập các FTA để đối trọng; thứ hai các nước phi thành viên sẽ đưa ra sáng kiến đề nghị tham gia FTA hiện có. 

Nếu khung khổ lý thuyết chỉ dừng ở đây thì có lẽ khó thuyết phục các quốc gia tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế vì tác động tĩnh mới chỉ đề cập tới lợi ích của người tiêu dùng, có vai trò chính trị rất mờ nhạt ở bất cứ quốc gia nào, mà chưa đề cập tới lợi ích của nhà sản xuất, lực lượng chủ yếu quyết định tiến trình hội nhập. Việc tham gia một FTA cũng mở ra cơ hội cho các DN có thể tiếp cận thị trường nước ngoài nhờ tác động động.

Tác động động

            Cùng với những tác động tĩnh, việc tham gia vào FTA cũng có thể tạo ra những tác động mang tính động và dài hạn. Tác động mang tính động là những tác động có thể xảy ra hoặc không trong bất cứ một FTA nào cũng như đối với bất cứ thành viên nào. Hầu hết các nhà kinh tế học đều cho rằng những tác động mang tính động không trực tiếp và đáng kể như những tác động tĩnh. Tuy nhiên không thể không xem xét các tác động này vì đó là những cơ hội đồng thời cũng là thách thức đối với các nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Mặc dù có nhiều cách phân loại khác nhau, song về cơ bản đều bao gồm  các tác động dưới đây:

Mở rộng thị trường

Việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan là cơ hội để các nhà sản xuất thâm nhập thị trường các nước thành viên FTA. Mở rộng thị trường cũng đồng nghĩa với việc DN có thể tiếp cận nhiều hơn với cơ hội mở rộng sản xuất, gia tăng lợi nhuận.  Đây là cơ sở để đạt được sự nhất trí từ phía các DN, lực lượng thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc hội nhập có hiệu quả của một quốc gia.

Nâng cao tính cạnh tranh

Cạnh tranh được coi là động lực phát triển và đó cũng là tác động lớn nhất mang tính động của FTA. Khi một FTA được hình thành, các hàng rào thuế quan nội khối sẽ bị hạ thấp hoặc xoá bỏ, điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp không còn nhận được sự bảo hộ từ các công cụ chính sách thương mại của nhà nước. Họ sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt hơn từ các sản phẩm của các nước thành viên FTA.

            Các tác động mang tính động tạo ra sức ép để các nhà sản xuất trong nước phải vận động nhằm thoát ra khỏi tình trạng trì trệ, ỉ lại, thúc đẩy họ nắm lấy cơ hội đổi mới hoạt động kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, hạ giá thành sản phẩm. Không nâng cao tính cạnh tranh đồng nghĩa với khả năng thất bại của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với những ngành công nghiệp được bảo hộ trước đó.

Thúc đẩy đầu tư

Hội nhập kinh tế của bất cứ quốc gia nào, dù ở bất kỳ hình thức nào cũng có thể gia tăng làn sóng đầu tư vốn cũng như công nghệ từ trong và ngoài nước. Sự phát triển của các DN nội địa trước các cơ hội thị trường mở rộng sẽ đòi hỏi tốc độ đổi mới công nghệ ngày càng cao, cần những khoản đầu tư không nhỏ. Ngoài yếu tố chủ quan đó thì việc tham gia FTA cũng sẽ là cơ hội thu hút vốn đầu tư từ các thành viên của FTA nói riêng và các nhà đầu tư ngoài FTA nói chung, lẽ đương nhiên khi các nước thiết lập FTA quy mô thị trường khu vực sẽ lớn hơn, tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các ngành công nghiệp có tiềm năng.

2.  Một số tác động phi kinh tế của FTA

Tập dượt trước khi bước vào sân chơi lớn hơn.

            Thương mại thế giới hiện đang được điều tiết bằng hệ thống các văn bản với khối lượng khổng lồ, thể hiện sự cam kết của các quốc gia trong các lĩnh vực rất đa dạng, bao trùm hầu như toàn bộ các yếu tố của nền kinh tế – xã hội. Nếu như GATT trước đây chỉ được cấu tạo bởi Hiệp định chung về thương mại và thuế quan thì WTO hiện nay đã bao trùm một khối lượng công việc lớn hơn nhiều. Ngoài việc bổ sung thêm các nội dung của GATT, WTO còn có thêm hàng loạt các hiệp định khác như Hiệp định chung thương mại về dịch vụ GATS, Hiệp định về các biện pháp thương mại liên quan đến đầu tư TRIMs, Hiệp định thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ TRIPs,… Đồng thời,  WTO hiện chứa đựng hàng loạt các yếu tố có tính kỹ thuật nhằm bảo hộ các sáng tạo tinh thần, các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn lao động,…

Trước sự phức tạp của các điều khoản WTO, không phải quốc gia nào cũng có thể hiểu kỹ càng  nội dung đó và vận dụng một cách thành công vào điều kiện kinh tế xã hội của đất nước mình. Vì vậy, nhiều quốc gia ký kết các FTA khu vực và song phương, bên cạnh các mục tiêu kinh tế, chính trị, còn coi đó là một cách tập duợt trước một sân chơi lớn hơn.

Tác động tới tiến trình cải cách của các nước khác

 Với lợi thế của các nền kinh tế phát triển, hệ thống thể chế, pháp luật của các nước này đã khá hoàn thiện và đảm bảo một môi trường kinh tế – chính trị phù hợp với các chuẩn mực phát triển của họ. Tuy nhiên trên thế giới, số các nước nằm trong khu vực đang phát triển lại chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng. Theo các tiêu chí của OECD, thế giới mới chỉ có 30 nước xếp vào hàng ngũ phát triển, phần còn lại là các nước đang phát triển và chậm phát triển.

Sự khác biệt về trình độ dẫn tới những khác biệt nhất định về mặt thể chế giữa hệ thống các nước và điều này sẽ gây ra nhiều khó khăn cho các DN khi tham gia vào các thị trường với những chuẩn mực khác biệt. Vì vậy, tìm ra những tiêu chí chung là mục tiêu mà các nước hướng tới. Tuy nhiên với trình độ phát triển ở mức độ thấp, các nước đang phát triển sẽ khó có được hệ thống pháp luật tương xứng với yêu cầu của các đối tác phát triển. Do đó, đối với những quốc gia có vị thế lớn trên thế giới, việc ký kết các FTA còn nhằm mục tiêu thúc đẩy cải cách ở các nước đối tác hoặc đặt ra một chuẩn mực chung cho tự do hoá thương mại. Thực tiễn ký kết FTA cũng cho thấy vấn đề này.

Trong khung khổ Hiệp định thành lập Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA, Mỹ đã đưa vào nội dung của hiệp định một số điều khoản sau này hầu hết cũng được đưa vào nội dung của WTO. Hiệp định thành lập NAFTA vào năm 1993 có quy mô và nội dung còn đồ sộ hơn nhiều hiệp định tồn tại trước đó như hiệp định GATT, hiệp ước Rome. Mục tiêu của Mỹ trong NAFTA rõ ràng là nhằm thử nghiệm các nội dung mới mà Mỹ thấy có lợi khi đưa vào khung khổ của tự do hoá thương mại đa phương, đồng thời còn nhằm mục đích để các nước khác “làm quen” với những luật lệ mới, khung khổ mới khi WTO được chính thức thành lập.   

Tăng cường an ninh kinh tế

            Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, bắt đầu ở Đông Nam Á sau đó lan rộng ra trên phạm vi toàn cầu, gây tổn thất to lớn cho các nền kinh tế nạn nhân của nó. Sự hợp tác lỏng lẻo giữa các nước, sự yếu kém của các thể chế hiện hữu đã vô hình chung đẩy mức độ tàn phá của cuộc khủng hoảng lên cao hơn nhiều lần so với năng lực phá hoại thực sự của nó. Cần nhận thấy rằng khi xảy ra cuộc khủng hoảng, Thailand, quốc gia là nơi bắt đầu cuộc khủng hoảng tồi tệ đó, chưa phải là một trung tâm tài chính tiền tệ quốc tế, nền kinh tế Thailand chưa được xếp vào hàng ngũ những “con rồng” châu Á. Vậy nên sự lan rộng của cuộc khủng hoảng, mà khởi điểm của nó khiến không mấy ai tin rằng có thể tác động vượt quá khung khổ của một sự cảnh báo nào đó, đã làm sửng sốt ngay cả những người lạc quan nhất khi chứng kiến giá trị sức mạnh đích thực của kinh tế thế giới thời điểm đó.

Nhận thức về an ninh kinh tế kể từ sau cuộc khủng hoảng đó đã thay đổi. Trong bối cảnh toàn cầu hoá tăng tốc, việc tăng cường liên kết với nhau là giải pháp hữu hiệu nhằm phòng chống những cuộc khủng hoảng tương tự. Sự nhiệt thành của các nước là cơ sở tích cực cho những hợp tác toàn diện hơn, song bất cứ sự hợp tác nào cũng cần dựa trên những bước đi thích hợp từ thấp đến cao. Trong bối cảnh hiện nay, năng lực thực tế và các yêu cầu có tính kỹ thuật chưa cho phép các khu vực kinh tế khác, ngoại trừ EU, làm được điều đó. Việc chọn phương án là ký kết các hiệp định thương mại tự do được coi là bước đi hợp lý nhằm củng cố quan hệ giữa các nước và tiến tới sự hợp tác ở những cấp độ cao hơn, tạo tiền đề cho những giải  pháp phòng chống khủng hoảng khả thi hơn.

Không chỉ những cuộc khủng hoảng tầm cỡ khu vực và thế giới mới đáng lo ngại, ngay trong một quốc gia, việc thiếu hụt nguồn lực sản xuất cũng luôn là đe doạ thường trực. Trong số các nguồn lực đó, năng lượng là một yếu tố quyết định đối với sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế. Thế giới đã chứng kiến ít nhất hai cuộc khủng hoảng liên quan đến năng lượng những năm đâu thập niên 1970 và 1980. Tăng trưởng kinh tế càng cao, nhu cầu về năng lượng càng lớn. Sự hợp tác giữa các nước không thể không tính đến vấn đề này, đặc biệt là những nước có nhu cầu năng lượng lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc. Chính vì vậy, việc ký kết các FTA còn nhằm tới mục tiêu ổn định nguồn cung cấp năng lượng, đảm bảo an ninh kinh tế.

Nâng cao vị thế quốc gia.

            Trong số gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ có chủ quyền trên thế giói, số các quốc gia nhỏ có diện tích nhỏ và dân số ít chiếm tới hơn 2/3. Các quốc gia này, xét cả về mặt chính trị và kinh tế đều không có tác động đáng kể đến tình hình thế giới. Nếu tồn tại môt cách đơn lẻ, họ sẽ phải đứng trước nguy cơ gánh chịu sự phân biệt đối xử lớn hơn, bị gạt ra xa hơn tiến trình phát triển chung của nhân loại. Vì vậy, xu thế chung cho thấy chủ nghĩa khu vực đang nổi lên hiện nay còn xuất phát từ mục tiêu nâng cao vị thế quốc gia trong khung khổ một tổ chức khu vực.

Hàng loạt các tổ chức khu vực với hình thức thể hiện chủ yếu là khu vực mậu dịch tự do đã được thiết lập ngay những ngày tháng đầu tiên sau sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân, những năm 60 của thế kỷ XX. Thị trường Chung Trung Mỹ CACM, Cộng đồng kinh tế các nước vùng Caribean CARICOM, … nhanh chóng được thiết lập không ngoài mục tiêu trên. Mặc dù ngay cả khi đã hội nhập thành một khối, các khu vực kinh tế nói trên vẫn chưa thể so sánh với nhiều nền kinh tế độc lập khác về tiềm lực kinh tế hay dung lượng thị trường. Song rõ ràng là nằm trong sự hiện diện với tư cách một khu vực kinh tế, các nước trong khu vực nói trên đã thu hút được sự chú ý nhiều hơn từ các nhà kinh doanh, đầu tư bên ngoài nhờ năng lực kinh tế tổng hợp đã được cải thiện. Sự quan tâm từ bên ngoài được cụ thể hoá bằng các hợp đồng thương mại, bằng các dự án đầu tư nước ngoài,… sẽ từng bước nâng dần vị thế của các nước nhỏ trên trường quốc tế. Không chỉ có sức thu hút lớn hơn, các nước này còn thống nhất được quan điểm đối với cách cư xử bất bình đẳng mà các nước lớn muốn áp đặt.

Nếu như nhu cầu của các nước nhỏ là nâng cao vị thế thông qua các liên kết khu vực, thì các nước lớn lại muốn thông qua các hiệp định thương mại tự do lôi kéo các nước khác nhằm thiết lập một trật tự mới có lợi hơn cho họ trên bản đồ địa chính trị, địa kinh tế toàn cầu. Cuộc đua tranh ký kết FTA giữa Mỹ và EU ở khu vực Mỹ latinh hay cuộc cạnh tranh giữa Nhật và Trung Quốc nhằm thiết lập khu vực mậu dịch tự do Đông Á là những bằng chứng rõ ràng nhất cho tình hình trên. Sự cạnh tranh ngôi vị thống trị kinh tế thế giới hoặc một khu vực địa lý nào đó đã thúc đẩy các nước phải kết thân với nhau. Việc sát cánh bên nhau trong một FTA cũng là một phương cách hữu hiệu gia tăng sức mạnh đàm phán trên các diễn đàn thương mại khác nhau.3. Một số quan điểm về vai trò của FTA

Kể từ khi Jacob Viner đưa ra lý thuyết về tác động chuyển hướng và tạo thương mại trong khung khổ một liên minh thuế quan, đã có nhiều nghiên cứu sau đó tiếp tục phân tích tác động của các thoả thuận thương mại khu vực cả dưới góc độ lý thuyết và thực tế. Tuy nhiên các lý thuyết hiện vẫn chưa giải thích được triệt để câu hỏi là liệu các thoả thuận thương mại khu vực có tạo ra tác động tạo thương mại nhiều hơn chuyển hướng thương mại hay không? Với sự phức tạp trong việc thành lập FTA như hiện nay, việc đánh giá tác động tổng thể của chúng là rất khó khăn do tác động của từng FTA với những chủ thể tham gia khác nhau khó có mẫu số chung, bởi lẽ còn khá nhiều vấn đề phức tạp xoay quanh chủ đề FTA.

Có hai câu hỏi phổ biến liên quan tới hiệu quả lan toả của các FTA. Câu hỏi thứ nhất là liệu tác động của FTA đối với các nước thành viên và phi thành viên là tích cực hay không?

Paul Krugman (1993) đưa ra một mô hình cho rằng FTA sẽ chủ yếu tạo ra tác động chuyển hướng thương mại bởi các nước thành viên sẽ tăng cường nhập khẩu hàng hoá của nhau do hàng rào thuế được cắt giảm. Điều này sẽ gây ra tác động xấu cho các nước phi thành viên khi xuất khẩu của họ tới các nước thành viên một FTA nào đó sẽ giảm xuống. Tuy nhiên quan điểm này vẫn có những điểm yếu. Nếu hàng rào thuế quan ngoại khối không cao thì sự chuyển hướng thương mại diễn ra là rất nhỏ. Hơn nữa các FTA còn cung cấp cho các nước ngoại khối những cơ hội mới khi họ có thể khai thác một thị trường lớn hơn từ việc thành lập FTA, và do vậy làm giảm ý nghĩa của chuyển hướng thương mại.

Tác động dài hạn của một FTA còn phụ thuộc vào phản ứng của các nước phi thành viên. Nhà kinh tế học Baldwin (1994) đưa ra quan điểm về hiệu ứng “domino” để lý giải sự phổ biến của các khối mậu dịch khu vực. FTA có thể tạo ra nhiều lợi ích từ việc tự do hoá mậu dịch cho các nước thành viên. Do đó các nhà xuất khẩu ở các nước phi thành viên sẽ thúc giục chính phủ của họ tìm kiếm tư cách thành viên ở các FTA đang hiện hữu hoặc đàm phán các FTA mới. Việc một nước mở rộng một cách ồ ạt ký kết các FTA sẽ khiến cho những đánh giá tác động của nó khó khăn do sự chồng chéo giữa các FTA.

Đối với việc lựa chọn đối tác FTA, Jagdish Bhawagti (1996) đưa ra quan điểm về các FTA tự nhiên, trong đó các nước thành viên có chung những điều kiện nhất định như biên giới, địa lý, thể chế, văn hoá,… (ví dụ như ANZCERTA, NAFTA). Việc thành lập của các FTA này dễ dàng hơn nhiều so với những khu vực kinh tế khác nhờ tính tương đồng của các yếu tố nền tảng. Tuy nhiên một số nhà kinh tế học khác cho rằng các FTA tự nhiên lại ít có khả năng tạo ra tác động tạo thương mại do sự tương đồng về các yếu tố nguồn lực.

 Câu hỏi thứ hai là liệu sự lan toả của các FTA có thể dẫn dắt tự do hoá thương mại toàn cầu hay không? Hiện đang có hai chiều hướng ý kiến về sự thành lập của FTA và tác động của nó đối với tiến trình hội nhập toàn cầu. Quan điểm cho rằng FTA sẽ cản trở tự do hoá thương mại đa phương đại diện là Jagdish Bhawagti của đại học Columbia và Anne Krueger Chuyên gia kinh tế của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, quan điểm ủng hộ sự phổ biến của các FTA đại diện là một số nhà kinh tế học của Viện CATO như Edward L Hudgins và của Viện Kinh tế quốc tế tại Washington DC như Fred Bergsten. Cả hai quan điểm này đều dựa vào khung phân tích các tác động của FTA làm cơ sở cho lý luận của mình.

Dưới góc độ không ủng hộ, Bhawagti cho rằng các FTA sẽ gây ra tình trạng hỗn loạn trong quan hệ thương mại thế giới, giống như cách ông ví von “bát mỳ ý”. Chứng kiến sự ra đời một cách ồ ạt của các FTA, lập luận của Bhagwati không phải là không có lý khi các nước ký kết FTA một cách tràn lan với nhiều đối tượng khác nhau. Các FTA được ký kết không chỉ giữa các nền kinh tế ở cùng đẳng cấp phát triển mà còn diễn ra giữa toàn bộ hệ thống các nước với trình độ và năng lực hội nhập khác biệt nhau. Các FTA cũng không còn bị giới hạn bởi yếu tố khu vực mà lan toả khắp các châu lục, vượt qua các giới hạn về mặt địa lý thông thường. Không những vậy, Anne Kruerger còn cho rằng sự sa đà của các nước vào trào lưu FTA khu vực và song phương đã khiến sự chú ý đối với diễn đàn đa phương bị sao nhãng. Bằng chứng đang cho thấy sự trì trệ của WTO có tác động không nhỏ của các FTA, nơi các nước có thể đạt được lợi ích nhanh chóng và sự cạnh tranh không lớn như trên sân đấu toàn cầu. 

Một tác động khác không thể không nhắc tới là tính bảo hộ của các FTA. Bản thân các FTA đã mang sự phân biệt đối xử đối với các nước phi thành viên và sự gia tăng của các FTA cũng đồng nghĩa với sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ, ít nhất cũng diễn ra ở các khu vực. Hệ quả của điều này là góp phần làm gia tăng tác động xấu tới tiến trình tự do hoá đa phương.

            khía cạnh ủng hộ, Fred Bergsten cho rằng các FTA sẽ hỗ trợ tự do hoá thương mại đa phương. Trong bối cảnh các cuộc đàm phán trên diễn đàn đa phương đang trì trệ, sự thành lập của FTA mang hai ý nghĩa tích cực. Thứ nhất, nó cho thấy tự do hoá thương mại vẫn đang tồn tại, các nước vẫn đang theo đuổi xu thế toàn cầu hoá cho dù diễn ra ở quy mô nhỏ hơn; thứ hai, các FTA được ký kết dưới bất cứ quy mô nào cùng có tác dụng kích thích sự vận động trở lại của tiến trình đàm phán tự do hoá thương mại đa phương.

            Về phạm vi của các FTA cũng có những ý kiến khác biệt nhau. Có quan niệm cho rằng các nước ký kết FTA với bất cứ sự dỡ bỏ hàng rào thương mại đối với bất cứ chủng loại hàng hoá nào đều là FTA. Lại có quan điểm cho rằng các FTA được ký kết với nội dung bao hàm cả tự do thương mại dịch vụ và tự do hoá các lĩnh vực đầu tư là các FTA +. Cách tiếp cận thứ hai xuất phát từ lịch sử phát triển của các FTA, ban đầu do sự hạn chế của khả năng sản xuất và sự phát triển của thị trường nên các nước chỉ ký kết với nhau các FTA với nội dung chủ yếu là tự do hoá thương mại hàng hoá. Chỉ khi thị trường và năng lực sản xuất phát triển các nội dung khác trong quan hệ thương mại giữa các nước như thương mại dịch vụ và đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên quan trọng thì các FTA mới bao hàm cả những nội dung này. Gần đây có thêm cách tiếp cận khác về phạm vi của các FTA, trong đó nếu FTA chỉ có tự do hóa thương mại hàng hóa thì được gọi là FTA thế hệ 1, các FTA bao gồm các cam kết đa dạng hơn như tự do hóa thương mại dịch vụ được gọi là thế hệ 2, nếu các nội dung về bảo hộ sở hữu trí tuệ, môi trường và điều kiện lao động nằm trong các cam kết của một FTA nào đó nó sẽ được gọi là FTA thế hệ 3.

            Tuy nhiên, dù gọi theo cách nào thì FTA vẫn giữ nguyên bản chất và các tác động của nó.

Tài liệu tham khảo

  1. Anne O.Krueger (1999), Trade Creation and Trade Diversion Under NAFTA, National Bureau of Economic Research, Cambridge.
  2. Athur I.Bloomfiedl (1994), Essays in the History of International Trade Theory, Edward Elgar Publishing Limited, Boston.
  3. Dean A.Derosa and John P.Gilbert (2005), “Predicting Trade Expansion under FTAs and Multilateral Agreements”, Working Paper series (No.WP 05-13), Institute for International Economic.
  4. Dominic Kelly & Wyn Grant (2005), The Politics of International Trade in the Twenty – First Century: Actors, Issues and Regional Dynamics, PalGrave McMillan, New York.
  5. Eric W.Bond, Raymond Riezman và Constantinos Syropoloulos (1999), A Theory of Free Trade Areas, Working Papers, Florida International University.
  6. Gandolfo, Giancarlo (1998), International Trade Theory and Policy, Sprignger – Verlag, Berlin.
  7. Jagdish Bhagwati & Arvisd Panagariya (1996), The Economics of Preferential Trade Agreement, American Enterprise Institute, Wasshington. DC. 

Comments  

 
0 #1 Anemonalove 2017-07-16 21:49
Hello guys! Who wants to chat with me? I'm live at HotBabesCams.com, we
can chat, you can watch me live for free, my nickname is Anemonalove , here
is my photo:

https://3.bp.blogspot.com/-u5pGYuGNsSo/WVixiO8RBUI/AAAAAAAAAFA/JWa2LHHFI2AkHParQa3fwwHhVijolmq8QCLcBGAs/s1600/hottest%2Bwebcam%2Bgirl%2B-%2BAnemonalove.jpg
Quote
 
 
0 #2 FirstRochell 2017-10-16 19:32
I see you don't monetize your page, don't waste your traffic,
you can earn extra cash every month because you've got high quality content.
If you want to know how to make extra bucks, search
for: Mrdalekjd methods for $$$
Quote
 
 
0 #3 FirstPatricia 2017-11-05 03:32
I see you don't monetize your website, don't waste your
traffic, you can earn extra bucks every month because you've got hi quality
content. If you want to know how to make extra money, search for:
Boorfe's tips best adsense alternative
Quote
 
 
0 #4 http://sklypas.lt 2018-08-02 10:16
Ela promete deixar 7 quilos dentro de 7 dias.
Quote
 
 
0 #5 womax onde comprar 2018-08-05 05:38
Acesso promete eliminar 7 quilos sobre 7 dias.
Quote
 
 
0 #6 detophyll 2018-08-05 07:43
Demais, ingeriram no âmbito de 0 a 11% do alcance.
Quote
 
 
0 #7 98Emily 2018-08-06 01:53
I can see that your page probably doesn't have much visits.
Your articles are awesome, you only need more new readers.
I know a method that can cause a viral effect on your blog.
Search in google: dracko's tricks make your content go viral
Quote
 
 
0 #8 biomac comprar 2018-08-08 13:42
A artrose é alguma obcecação das articulações.
Quote
 
 
0 #9 Rena 2018-08-08 14:53
Ela promete deixar 7 quilos sobre 7 dias.
Quote
 
 
0 #10 Aileen 2018-08-08 18:55
A artrose é certa mazela das articulações.
Quote
 

Add comment


Security code
Refresh

Thống

Các thành viên : 684
Nội dung : 635
Liên kết web : 1
Số lần xem bài viết : 1388445