Liên minh Thái Bình Dương - Động cơ của lựa chọn hội nhập

In
PDF.

1. Khái quát về sự hình thành của Liên minh Thái Bình Dương - PA

            Ý tưởng ban đầu thành lập Liên minh Thái Bình Dương PA của Tổng thống Peru Alan Garcia, ông đưa ra đề xuất này nhằm thực hiện hóa sáng kiến hình thành khu vực mậu dịch tự do Vòng cung Thái Bình Dương (Pacific Arch) được thảo luận từ năm 2006. Tháng 10/2010, Peru đã đã mời nguyên thủ các nước Chile, Colombia, Ecuardo và Panama tham gia cuộc hội đàm về chủ đề trên. Tuy nhiên, Ecuador đã từ chối tham gia thỏa thuận này, còn Panama chỉ muốn tham gia với tư cách quan sát viên. Mặc dầu vậy, sáng kiến này vấn có cơ hội trở thành hiện thực khi Mexico, nước ban đầu không phải là khách mời, bày tỏ ý định tham gia đàm phán. Ngày 28/4/2011 nguyên thủ của bốn nước Mexico, Colombia, Peru và Chile đã thông qua tuyên bố Lima tạo ra cơ sở cho việc hình thành một khu vực hội nhập kinh tế mới ở Tây Bán cầu. Tháng 6/2012, tại Antofagasta - Chile, Liên minh Thái Bình Dương chính thức ra đời sau khi nguyên thủ 4 nước nói trên thống nhất ký kết hiệp định thành lập với mục tiêu là nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa bốn quốc gia Mỹ Latinh, đồng thời đặt trọng tâm là mở rộng quan hệ, bên cạnh các mối quan hệ nòng cốt là Mỹ và EU thì PA cũng hy vọng một sự mở rộng trong quan hệ kinh tế với các quốc gia khác thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

            Hiệp định này được các thành viên PA kỳ vọng sẽ làm gia tăng tính cạnh tranh của kinh tế khu vực, hỗ trợ phát triển thương mại, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy cải cách thể chế ở các nước bằng việc hội nhập vào nền kinh tế của nhau thông qua việc cho phép tự do hóa thị trường vốn, hàng hóa, dịch vụ và tự do dịch chuyển sức lao động,... Các thành viên cũng thể hiện nguyện vọng muốn thiết lập một trật tự thương mại tự do mới thu hút sự quan tâm của các nước Mỹ Latinh khác và đặc biệt là các nước láng giềng giàu có phía Bắc là Mỹ và Canada tham gia vào tiến trình này.

            Trước khi PA thành lập ở Tây Bán cầu đã tồn tại hàng loạt các tổ chức kinh tế khu vực khác như Khu vực mậu dịch tự do các nước Carribean CARICOM thành lập từ thập niên 1960, Thị trường chung Trung Mỹ CACM thành lập từ thập niên 1970, Thị trường chung Nam Mỹ Mercosur, Khu vực mậu dịch tự do các nước dãy Andes ANDEAN thành lập trong những năm 80 và 90 của thế kỷ XX,... So với các tổ chức kinh tế khu vực khác ở Tây Bán cầu, mô hình hội nhập của PA được cho là sự kết hợp của các hình thức hội nhập khác đã hình thành, về nội dung hội nhập PA bằng ADEAN, Mercosur cộng lại.

            Liên minh Thái Bình dương có được thuận lợi cơ bản, kết thúc đàm phán sớm chỉ sau 2 năm sau khi ý tưởng thành lập được đưa ra, do các thành viên tham gia hiệp định đều là các nước đã và đang cam kết mạnh mẽ với thương mại tự do. Tổng số các hiệp định thương mại tự do FTA mà nhóm nước này đã ký kết lên tới khoảng 25 và trải đều ở các cấp độ, từ FTA thế hệ thứ nhất tới FTA thế hệ ba. Hơn nữa hầu hết các nước trong nhóm đàm phán đều đang là thành viên của một FTA có vai trò khá lớn đối với hợp tác phát triển nội khu vực nói riêng và hội nhập kinh tế khu vực Mỹ Latinh nói chung. Mexico hiện là thành viên của Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA. Chile và Peru không chỉ là thành viên của Khu vực tự do mậu dịch các nước thuộc dãy Andes (ANDEAN Pact) mà còn là thành viên mở rộng của Thị trường chung Nam Mỹ Mercosur. Colombia hiện cũng đã ký khá nhiều các FTA với các nước thuộc Mỹ Latinh cũng như 1 FTA song phương với Mỹ.

            Tính đến cuối tháng 3/2014, các thành viên tham gia thành lập Liên minh Thái Bình dương đã tổ chức 6 vòng đàm phán xoay quanh các nội dung có mức độ tự do hóa thương mại và mở cửa đầu tư khá sâu rộng. Tại cuộc gặp thượng đỉnh thứ 5, tháng 10/2013, các nước đã chính thức thỏa thuận bãi bỏ ngay hàng rào mậu dịch đối với 92% số hàng hóa xuất nhập khẩu, 8% còn lại, chủ yếu là những sản phẩm nông sản “nhạy cảm” đối với một số nước như cà phê, chuối,... sẽ lên lịch trình cắt giảm nốt trong 3 đến 7 năm tới. Bên cạnh những thỏa thuận tự do thương mại, các nước thành viên cũng thống nhất mở các vòng đàm phán Thỏa thuận về thương mại điện tử, ký thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực du lịch và Thỏa thuận về hợp tác giữa các cơ quan Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm,... Một nội dung hợp tác quan trọng khác là kết nối các thị trường chứng khoán, hình thành một thị trường đầu tư chung cũng được đề cập tới và thực tế là ngoại trừ Mexico các thành viên còn lại đã hình thành các sở giao dịch chứng khoán chung. Để tăng cường hiệu quả, các nước cũng nhất trí thiết lập các đại diện ngoại giao chung ở các khu vực mà cơ hội hợp tác chỉ ở mức tiềm nănng. PA cũng đã đạt được một số tiến bộ rõ rệt nhằm thúc đẩy tự do hóa thị trường lao động. Bước đầu, Mexico đã bỏ thị thực nhập cảnh cho công dân của các nước Colombia và Peru trong khoảng thời gian lên tới 180 ngày chỉ với điều kiện công dân của hai nước này không tham gia các hoạt động thu lợi nhuận trong thời gian lưu trú tại Mexico.  

            Với quy mô dân số lên tới 212 triệu người tương đương với 35% dân số của khu vực Mỹ Latinh và Carribean, PA đã có một vai trò khá lớn ở Mỹ Latinh khi xuất khẩu ra thị trường thế giới tới một nửa số hàng hóa sản xuất ra tại khu vực, đạt giá trị khoảng 1.045 tỷ USD. Nếu so với tổ chức kinh tế khu vực lớn nhất Mỹ Latinh là Mercosur, giá trị xuất khẩu của PA còn lớn hơn 60%. Sự hình thành của Liên minh này đã tạo ra một khu vực kinh tế khá lớn, có sức mạnh đứng thứ 8 thế giới xét về tổng sản phẩm nội địa (GDP) (đạt khoảng 1.700 tỷ USD, chiếm 36% GDP của Mỹ Latinh). PA cũng chiếm tới 41% tổng FDI của toàn khu vực. Trong vài năm gần đây, bất chấp cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn dai dẳng, các thành viên PA đạt tăng trưởng kinh tế bình quân khá tốt, năm 2012 đạt mức 5%, cao hơn mức trung bình 3% của thế giới và cao hơn các tổ chức kinh tế khác thuộc Mỹ Latinh như Mercosur, ALBA,...

2. Động cơ thành lập Liên minh Thái Bình dương

            Có lẽ Mỹ Latinh một trong các khu vực có các tổ chức kinh tế khu vực dày đặc nhất thế giới. Với quy mô 34 quốc gia trải từ Trung Mỹ tới Nam Mỹ, hàng loạt các liên kết kinh tế khu vực với nhiều hình thức đa dạng đang hiện hữu ở khu vực này. Hiệp hội liên kết Mỹ Latinh (LAIA), sau khi thay thế Hiệp hội mậu dịch tự do Mỹ Latinh vào năm 1980 (LAFTA – lập theo Hiệp ước Montevideo 1960 gồm Argentina, Bolivia, Brazil, Chile, Mexico, Paraguay, Peru, Uruguay, Colombia, Ecuador, Venezuela) tiến hành những bước hội nhập bằng hai nấc khác nhau, nấc khu vực và nấc tiểu khu vực. Quá trình liên kết của LAIA tiến triển nhanh kể từ cuối thập niên 80 trở đi. Năm 1991, Argentina, Brazil, Paraguay, Uraguay ký Hiệp ước thành lập Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR). Hoà trong xu thế FTA, các nước ở khu vực Trung Mỹ cũng rất tích cực củng cố các thoả thuận khu vực và tìm kiếm các thoả thuận thương mại song phương. Cộng đồng ANDEAN (ANDEAN Community), khối Thị trường chung Trung Mỹ (CACM) bao gồm Honduras, Guatemala, Nicaragua, El Salvado, Costa Ricavà Cộng đồng các nước vùng Caribean (CARICOM) là những ví dụ sinh động. Xét trong bối cảnh đó câu hỏi đặt ra là đâu là động cơ dẫn tới sự hình thành Liên minh Thái Bình dương?

            Thứ nhất, các tổ chức kinh tế khu vực đang hiện diện ở Mỹ Latinh đã cho thấy sự kém hấp dẫn khi thực tiễn hội nhập không giống như kỳ vọng của các nước thành viên. Mặc dù được xem là một trong những mục tiêu quan trọng nhất, song thương mại nội khu vực đạt giá trị rất thấp, hiện chỉ xoay quanh mức bình quân khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực này. So với tỷ trọng thương mại nội khối của các tổ chức kinh tế khu vực khác trên thế giới thì đây là mức rất khiêm tốn, giá trị thương mại nội khối của EU lên tới gần 70%, hoặc ngay NAFTA cũng đạt gần 60%. Các lợi ích khác từ hội nhập như tăng cường thu hút FDI cũng không hề sáng sủa.

            Lợi ích từ hội nhập thấp có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu xuất phát từ những cam kết của các tổ chức kinh tế khu vực của Mỹ Latinh rất lỏng lẻo, đầy cảm tính nên khi nền kinh tế nội địa gặp khó khăn thì những cam kết này rất ít có giá trị. Năm 2002 khi Argentina gặp khó khăn tài chính, quốc gia này phải xiết chặt ngoại thương để đáp ứng những yêu cầu "thắt lưng buộc bụng" mà Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF đính kèm khoản cứu trợ tài chính dành cho họ. Chẳng những không thông cảm tình hình khó khăn của nước láng giềng cùng là thành viên sáng lập Mercosur, Brazil đã ngay lập tức có những biện pháp trả đũa thương mại đối với Argentina, vi phạm các thỏa thuận hai bên đạt được cùng Paraguay và Uruguay khi thành lập Mercosur vào năm 1991. Những tranh chấp thương mại khác cũng luôn là vấn đề nóng ở các tổ chức kinh tế khu vực khác ở Mỹ Latinh. Với các cam kết khá chặt chẽ và mức độ mở cửa cũng như thời gian thực hiện rất nhanh chóng, Liên minh Thái Bình dương có thể trở thành điểm nhấn mới trong hội nhập ở Mỹ Latinh, có thể lôi kéo các nước khác ở Mỹ Latinh tham gia tiến trình này.

            Thứ hai, những biến động chính trị xã hội ở khu vực Mỹ Latinh gần đây khiến cho chủ đề hội nhập kinh tế khu vực bị xao lãng trong khi các vấn đề chính trị lại trở thành trọng tâm. Từ năm 2000 đến nay, sự lên ngôi của phong trào cánh tả ở Mỹ Latinh đã khiến quan hệ đối ngoại của khu vực này có nhiều thay đổi. Cũng từ năm 2000 đến nay, hàng loạt các cơ chế hợp tác mới ở Mỹ Latinh đã được thành lập như Liên minh Boliva cho người dân châu Mỹ (Bolivarian Alliance for the Peoples of Our America—ALBA) thành lập năm 2004, Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (Union of South American Nations—UNASUR) thành lập năm 2008, Cộng đồng các quốc gia Mỹ Latinh và Carribean(Community of Latin American and Caribbean States—CELAC) thành lập năm 2010. Được dẫn dắt bởi những nhà lãnh đạo có xu hướng theo đuổi chủ nghĩa khu vực với quan niệm coi chủ nghĩa khu vực và hội nhập khu vực như là một công cụ để chống lại toàn cầu hóa, các tổ chức này mang màu sắc chính trị nhiều hơn là mang lại lợi ích kinh tế. Đại diện cho xu thế này là Brazil, quốc gia lớn nhất Nam Mỹ và Venezuela, quốc gia theo đường lối cánh tả.

            Được xếp vào nhóm nước mới nổi, Brazil đang tìm cách tăng cường ảnh hưởng của mình ở khu vực. Hiện thời sáng kiến thành lập khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ FTAA, được đưa ra từ hội nghị tại Miami năm 1994, đang được Mỹ quan tâm và đề xuất các nội dung đàm phán. Nếu FTAA thành lập theo kịch bản của Mỹ thì Brazil khó có thể thoát khỏi vị trí cường quốc hạng hai, thứ mà họ đang muốn thay đổi. Nước này ủng hộ sự ra đời của UNASUR và CELAC rất nhiệt thành và muốn biến các tổ chức này thành công cụ để thiết lập FTAA theo kịch bản của họ.

            Cố Tổng thống Venezuela Hugo Chavez cũng đã sử dụng ALBA nhằm chống lại các ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực. Chia sẻ với quan điểm "Toàn cầu hóa là Mỹ hóa"của cựu Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad, Chavez kêu gọi các nước phản đối sự can dự của Mỹ đối với các vấn đề của Mỹ Latinh và việc thành lập các tổ chức nói trên ít nhiều mang động cơ tập hợp lực lượng hy vọng có thể tạo ra đối trọng với cường quốc lớn nhất khu vực châu Mỹ và thế giới.

            Quan điểm của Brazil và Venezuela nhận được sự ủng hộ của một số nước có phong trào cánh tả đang lên như Bolivia, Ecuardo,... (dẫn tới sự hình thành ALBA, mặc dù trước đó các nước này là thành viên của nhóm các nước dãy Andes (CAN). Tình huống này vô hình chung chia rẽ Mỹ Latinh khi không ít quốc gia trong khu vực này vẫn phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ ở hầu khắp các lĩnh vực như thương mại, đầu tư hay hỗ trợ phát triển. Sự chia rẽ này đẩy các hiệp định liên kết kinh tế trong khu vực đi vào ngõ cụt khi các quan niệm không thống nhất. Việc khởi xướng một tổ chức kinh tế khu vực mới như Liên minh Thái Bình dương rõ ràng có thể giúp các nước thành viên thoát khỏi thế bế tắc hiện tại, đồng thời có thể tạo ra sinh khí mới cho hội nhập ở khu vực này, đưa tiến trình hội nhập của Mỹ Latinh trở lại lộ trình bằng những lợi ích kinh tế đích thực.          

            Thứ ba,các mối hợp tác phi thương mại lên ngôi thay thế cho quan hệ thương mại truyền thống ở Mỹ Latinh. Thập niên 1990 chứng kiến làn sóng hội nhập mạnh mẽ của khu vực này với mục tiêu là phát triển quy mô thị trường và hiệu quả kinh tế thông qua tự do hóa thương mại khu vực. Tuy nhiên, kể từ khi bắt đầu thiên niên kỷ mới, các nước Mỹ Latinh dường như quay lưng lại với tự do hóa kinh tế và tập trung mối quan tâm vào các vấn đề chính trị. Sự thay đổi này có nguyên nhân từ sự thất vọng của chính giới Mỹ Latinh đối với nền kinh tế toàn cầu khi chứng kiến hàng loạt cuộc khủng hoảng ở cả khu vực lẫn trên thế giới gây ảnh hưởng nghiêm trọng và dẫn tới sự thắng thế của lực lượng cánh tả. Các kế hoạch hội nhập mới thiên về về việc xây dựng sự đồng thuận chính trị và phát triển các tổ chức khu vực độc lập. Xu hướng này dẫn tới sự gia tăng của các vấn đề phi thương mại như hợp tác về năng lượng, xậy dựng hạ tầng, tài chính và an ninh khu vực. Với mục tiêu thúc đẩy thương mại khu vực nhằm tạo vị thế cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu và mở cửa với các nước châu Á - Thái Bình Dương, rõ ràng, Liên minh Thái Bình Dương hy vọng tái khởi động lại tiến trình hợp tác thương mại khu vực.

            Thứ tư, các hình thức hội nhập khác bên ngoài khu vực Mỹ Latinh như sáng kiến về các Hiêp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, Hiệp định đối tác kinh tế khu vực toàn diện RCEP,... đang được triển khai ồ ạt. Đây là các thỏa thuận thương mại có quy mô rất lớn, có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ tới không chỉ kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà còn ở cấp độ toàn cầu bởi nó tập trung được các nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Australia,... và các nền kinh tế mới nổi có tốc độ tăng trưởng cao như Trung Quốc. Nếu khu vực Mỹ Latinh không có những bước chuẩn bị hội nhập tích cực hơn, có lẽ họ sẽ bị đặt ra ngoài lề tiến trình hội nhập của châu Á - Thái Bình Dương. Hơn nữa, ba trong bốn thành viên Liên minh Thái Bình Dương là Mexico, Peru va Chile cũng đang là thành viên đàm phán TPP và đồng thời là thành viên của APEC. Tuy nhiên, quy mô của các nước này trong TPP khá khiêm tốn, nếu không có các tổ chức kinh tế hậu thuẫn, sức mạnh đàm phán của họ yếu đi đáng kể. Liên minh Thái Bình Dương có thể giúp các nước này có vị thế tốt hơn đối với các vấn đề hiện đang được ráo riết đàm phán ở TPP.         

            Thứ năm,Liên minh Thái Bình Dương  đặt ra mục tiêu thu hút sự quan tâm của các nước lớn trong khu vực, đặc biệt là Mỹ. Hiện 3 thành viên PA đã ký FTA với Mỹ là Mexico, Chile và Columbia, tuy nhiên hiện diện với tư cách một khối kinh tế có khả năng gia tăng hiệu quả hội nhập hơn là các FTA song phương. Hơn nữa, sự hình thành của một khối kinh tế thống nhất trong bối cảnh những bất đồng về cách thức hội nhập của Tây bán cầu vẫn chưa có lối thoát giúp gợi ra hướng đi mới cho sự hình thành của FTAA. Hiện tại yếu tố quyết định sự hình thành của FTAA dường như chỉ còn là sự tranh cãi giữa Mỹ và Brazil với khúc mắc chủ yếu là các yêu cầu mở cửa thị trường và các đòi hỏi kỹ thuật quá cao của Mỹ. Nếu thành công, mô hình PA có thể tạo ra sự đồng thuận cho phương án FTAA mới.    

3. Những thách thức đối với Liên minh Thái Bình dương

          Với những cam kết đạt được PA đứng trước nhiều cơ hội để hiện thực hóa mục tiêu của mình. Thưc tiễn cho thấy PA đã tạo ra một làn sóng quan tâm nhất định khi cộng đồng kinh doanh và thị trường chứng khoán các nước thành viên đã ủng hộ tổ chức mới này bằng sự gia tăng của các chỉ số. Bên cạnh đó, các nước bên ngoài cũng thể hiện sự quan tâm đáng kể khi có 16 nước bao gồm Costa Rica, Panama, Canada, Uruguay, Australia, New Zealand, Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha, Honduras, Cộng hòa Dominic, El Salvador, Ecuador và Paraguay tham gia với tư cách quan sát viên ngay khi PA có hiệu lực. Trong cuộc họp cấp Bộ trưởng PA tháng 2/2014 vừa qua, Liên minh cũng đã xét đơn xin gia nhập với tư cách quan sát viên của bốn nước mới là Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, trước PA, Mỹ Latinh đã có nhiều tổ chức kinh tế khu vực, song nếu đưa yếu tố hiệu quả để chọn ra một tổ chức kinh tế khu vực thành công thì đó là một công việc rất khó bởi nhận thức chung là các tổ chức này đều gặp nhiều vấn đề khi thực thi. Liệu PA có đi vào vết xe đổ của các tổ chức kinh tế khu vực trước đây?

            Thứ nhất, Liên minh Thái Bình Dương vẫn đang bị nhiều nước Mỹ Latinh dõi theo với ánh mắt nghi ngờ. Giới cánh hữu của Mỹ Latinh cho rằng Liên minh Thái Bình Dương là một công cụ của Mỹ nhằm tác động tới hội nhập khu vực và thúc đẩy các quan điểm tiêu cực đối với các vấn đề thương mại ở Nam Mỹ. Quan điểm này cũng được liên minh trung hữu và các đảng cánh tả chia sẻ. Các nước này vốn ngay sau hội nghị Miami đã cho rằng sáng kiến FTAA Mỹ đang nuôi dưỡng có những điều khoản có thể gây ra xáo trộn kinh tế - xã hội ở Mỹ Latinh. Brazil đã lôi kéo 12 nước khác tạo dựng UNASUR năm 2008 và thành lập CELAC nhằm trực tiếp chống lại Tổ chức các quốc gia châu Mỹ OAS do Mỹ dẫn dắt, xa hơn là nhằm chống lại sự lan tỏa của sáng kiến FTAA từ Mỹ. Các nỗ lực này đã đạt được những kết quả nhất định, tại Hội nghị Thưởng định châu Mỹ năm 2005 Mỹ đã bị cô lập khi các đề xuất FTAA của họ vấp phải sự im lặng từ phía các nước tham gia hội nghị. Điều này buộc Mỹ phải từ bỏ cách tiếp cận FTAA đa phương đối với hội nhập ở châu Mỹ sang cách tiếp cận song phương khi ký kết hàng loạt các FTA song phương với Mỹ Latinh, trong đó có 3 thành viên của PA. Chính điều này khiến các nước khác cho rằng PA  là một phần trong chiến lược áp đặt các tiêu chuẩn đàm phán FTAA của Mỹ. Liên minh Thái Bình Dương chỉ là tên gọi khác của FTAA mà thôi và nó đe dọa sự ổn định của các tổ chức khu vực khác, đặc biệt là Mercosur và UNASUR. Tương tự như vậy, lực lượng cánh tả cũng e ngại PA sẽ làm xói mòn ALBA. Nếu các nước Mỹ Latinh khác hiện thực hóa nghi ngờ của họ bằng cách đứng ngoài tiến trình PA, rõ ràng, PA khó có thể đạt được mục tiêu trở thành trung tâm mới của hội nhập kinh tế ở Mỹ Latinh.  

            Thứ hai, việc tạo ra lợi ích kinh tế là nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng tạo ra cầu nối gắn kết các thành viên. Ở khía cạnh đầu tư, các thành viên đang thể hiện sự hợp tác khá mạnh mẽ. Các thành viên PA đang là các nhà đầu tư lớn thứ ba ở Peru, chỉ đứng sau EU và các nước Bắc Mỹ. Năm 2012 tổng FDi của Chile, Colombia, Mexico vào Peru đạt 2,96 tỷ USD chiếm 13% tổng FDI vào quốc gia này. Tuy nhiên, thương mại giữa bốn nước thành viên hiện vẫn khá nhỏ. Năm 2012, giá trị xuất khẩu chỉ đạt 21 tỷ USD, giá trị nhập khẩu khoảng 22 tỷ USD, chiếm xấp xỉ 4% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của các thành viên trên thị trường toàn cầu. Cải thiện tình hình này không phải là một điều dễ dàng bởi cơ cấu kinh tế, trình độ sản xuất của các thành viên PA khá tương đồng. Lý thuyết cho thấy với những thành viên như vậy, PA chỉ dẫn tới hiệu quả chuyển hướng ngoại thương hơn là sáng tạo thương mại, lợi ích kinh tế vì thế khó có thể là minh chứng tốt cho sự lựa chọn của PA. Nếu tình hình phát triển thương mại không được cải thiện thì PA khó tránh khỏi kết cục như một số tổ chức kinh tế khu vực khác trước đây.    

            Thứ ba, lợi ích kinh tế của các thành viên Liên minh Thái Bình Dương không song hành với các vấn đề chiến lược chính trị. Peru và Chile vẫn đang có những tranh cãi liên quan đến lãnh hải. Hơn nữa, các thành viên hiện cũng đối mặt với những thách thức an ninh nội địa khá nghiêm trọng như xung đột vũ trang ở Colombia, tội phạm liên quan đến ma túy ở Mexico. Cuối cùng, nghị trình an ninh của các thành viên Liên minh Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng của các tiểu khu vực. Mexico gắn bó với Mỹ trong khi đó các thành viên Nam Mỹ chịu ảnh hưởng của cấu trúc an ninh khu vực này là UNASUR với Hội đồng quốc phòng Nam Mỹ làm hạt nhân. Thực tiễn đang cho thấy có những nhận thức khác biệt giữa Bắc và Nam Mỹ trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế đương đại. Với sự chia rẽ như vậy, khó tránh khỏi những va chạm giữa các tổ chức khi nhiều vấn đề chính trị quốc tế hiện tại không thể tìm được tiếng nói chung. Khi đó các thành viên PA cũng sẽ gặp khó khăn nhất định trên con đường của riêng mình. 

           

Tài liệu tham khảo

1. Deutsche Bank Research (2013), Talking Point. The Pacific Alliance – Latin America’s New Stars, 27 August.

2. Gardini, Gian Luca (2013), The Added Value of the Pacific Alliance and ‘Modular Regionalism’ in Latin America, LSE IDEAS, 21 March, online: <http://blogs.lse. ac.uk/ideas/2013/06/the-added-value-of-the-pacific- alliance-and-modular-regionalism-in-latin-america/> (28 Oct. 2013).

3. SELA (2013), The Pacific Alliance in Latin American and Caribbean Integration, Caracas.

4. Whitehead, Laurence, and Detlef Nolte (2012), The Obama Administration and Latin America: A Dis- appointing First Term, Hamburg: GIGA, Focus Inter- national, 6, online: <www.giga-hamburg.de/de/sys tem/files/publications/gf_international_1206.pdf> (25 Oct. 2013).

5. Flemes, Daniel, and Andrew Cooper (2013), Foreign Policy Strategies of Emerging Powers in a Multipolar World: an Introductory Review, in: Third World Quarterly, 34, 6, 943–962.

6. Flemes, Daniel, and Leslie Wehner (2012), Drivers of Strategic Contestation in South America, Hamburg: GIGA Working Papers, 207, online: <www.giga-hamburg.de/de/publikationen/working-papers>. 

 

PGS.TS.Bùi Thành Nam.

Comments  

 
0 #1 Online Loans 2018-10-11 23:27
bad credit loans guaranteed approval bad credit loans credit loans guaranteed approval bad credit loans direct lenders
Quote
 

Add comment


Security code
Refresh

Thống

Các thành viên : 684
Nội dung : 635
Liên kết web : 1
Số lần xem bài viết : 1387829