Nhìn lại cách tiếp cận của các nước thành viên trong Quá trình vận động thành lập NAFTA

In
PDF.

Ý tưởng thành lập một khu vực tự do kinh tế Bắc Mỹ đã bắt đầu ngay từ cuối những năm 1970. Năm 1979 Ronand Reagan, trong bài phát biểu tuyên bố tham gia tranh cử tổng thống, đã gợi ý về một “Thoả ước Bắc Mỹ” giữa Mỹ, Canada và Mexico. Ông cho rằng “Chìa khoá an ninh trong tương lai của chúng ta (nước Mỹ) là việc cả hai nước Canada và Mexico sẽ trở thành các quốc gia mạnh mẽ hơn”. Đề xuất này chỉ nhận được thái độ lạnh lẽo của Mexico cho dù khi trở thành Tổng thống Mỹ Reagan đã tới thăm Mexico để thúc đẩy việc hiện thực hoá sáng kiến của mình[2]. Mexico dặc biệt quan tâm tới quyền sở hữu các mỏ dầu, họ đã lập ra các công ty độc quyền trong lĩnh vực khai thác, sản xuất dầu mỏ và khí đốt (được lập ra sau khi quốc hữu hoá các công ty khai thác dầu mỏ nước ngoài vào năm 1938).

Trong suốt giai đoạn cầm quyền của 2 đời tổng thống Luis Echeverria (1970-1976) và José López Portillo (1976 - 1982), Mexico theo đuổi chính sách công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, một mô hình rất phổ biến trong thế giới các nước đang phát triển lúc đó. Chính sách bảo hộ mậu dịch được thực hiện triệt để trong suốt thời gian này. Tỷ lệ thuế quan bình quân của Mexico năm 1982 là khoảng 20%, rất cao so với cả hai nước láng giềng ở phía Bắc, đồng thời mọi hàng hoá nhập khẩu đều phải được phép của các cơ quan quản lý thương mại. Đối với hội nhập kinh tế đa phương Mexico cũng bỏ qua sự quan tâm đối với việc đàm phán gia nhập GATT.

Sự trì trệ của kinh tế toàn cầu những năm cuối thập niên 1970 đã khiến cho thị trường đối với dầu mỏ của Mexico suy giảm, gánh nặng nợ càng trầm trọng hơn khi nền kinh tế không thể xuất khẩu để thu ngoại tệ trả nợ. Sự mất giá của đồng Peso khiến cho các ngân hàng thương mại trên thế giới dừng việc cho vay đối với Mexico, đến tháng 8/1982 Mexico phải tuyên bố phá sản, trở thành quốc gia đang phát triển đầu tiên trì hoãn trả các khoản vay quốc tế.

Sự phá sản của chính sách công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã khiến chính quyền Mexico phải thay đổi cách tiếp cận phát triển kinh tế. Khẩu hiệu kinh tế thị trường và tự do thương mại được đưa ra. Mexico đã trở thành thành viên GATT năm 1986, tới cuối năm 1987, thuế quan bình quân đã giảm từ mức 20% xuống còn 11%, các hàng rào phi thuế quan cũng được dỡ bỏ đối với 1/4 số hàng hoá nhập khẩu [4]. Maquiladora là một kinh nghiệm tốt đối với Mexico trong việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

Chính sách thương mại thay đổi đã tác động tích cực đối với Mexico, xuất khẩu tăng gấp gần 2 lần từ mức 15,2 tỷ USD 1980 lên mức 29,6 tỷ USD năm 1989, nhập khẩu cũng tăng đáng kể, từ 19,3 tỷ USD lên 31,1 tỷ USD. Tỷ trọng của xuất khẩu so với GDP cũng tăng từ 12% lên khoảng 20% trong cùng thời gian[6].

Tuy nhiên, nỗi lo ngại sự can thiệp của Mỹ còn tiếp tục ám ảnh nền chính trị Mexico. Một quá khứ chứa đầy sự không tin tưởng đã tạo ra thói quen cách biệt của Mexico với dân Mỹ. Vì vậy khi Mỹ và Canada thực hiện đàm phán về Hiệp định thương mại tự do Canada – Mỹ (CUSFTA) năm 1985, chính quyền Mexico không hề quan tâm tới do những lo ngại về chủ nghĩa dân tộc còn quá lớn. Một quan chức Mexico đã nhận xét “điều dễ làm nhất ở Mexico là tổ chức cuộc biểu tình của 100.000 người trước cổng Tòa sứ quán Mỹ. Điều khó làm nhất ở Mexico là khuyến khích những người đó thực hiện một FTA với Mỹ”. [8].

            Tiếp cận tự do thương mại nhiều tầng của Mỹ

Đối với chính quyền G.H. Bush, Mexico lúc đó chưa phải là đối tác kinh tế đủ lớn để có thể tác động mạnh tới chính sách FTA của Mỹ. Xuất khẩu của Mỹ tới Mexico có sự tăng trưởng rất thấp nếu xét toàn giai đoạn từ 1980 đến 1990. Năm 1980 nhập khẩu của Mexico từ Mỹ chỉ chiếm 6,9% trong tổng xuất khẩu của Mỹ trên toàn thế giới, đến năm 1990 chỉ tăng lên 7,2%[10].  Sự bất bình đẳng này khiến ngay cả các DN Mỹ cũng muốn ký FTA với Mexico để giảm bớt sự chênh lệch thương mại giữa hai nước.

Bên cạnh đó, năm 1994 là năm bầu cử ở Mexico, theo thông lệ, chính phủ nào cũng cần thành tích để có cơ hội tái cử. Trong quá trình bầu cử, tình hình Mexico rất phức tạp, chính thể dân chủ bị đe doạ khi hàng loạt vụ ám sát xảy ra nhằm vào các chính trị gia ứng cử viên Tổng thống. Tình hình hỗn loạn ở Mexico khiến Mỹ không thể không quan tâm và muốn nó tiến hành những cải cách theo mô hình Mỹ, vì vậy việc xúc tiến FTA đã được tiến hành nhanh hơn nhằm có cơ hội thực thi nhanh chóng tiến trình dân chủ ở Mexico.

Một điều nữa khiến Mỹ quan ngại là xu thế hội nhập ở khu vực Mỹ Latinh diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Kể từ những năm đầu thập niên 1980, các nước Mỹ Latinh đã hành động độc lập hơn trong các vấn đề đối ngoại nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ[12]. Tuy nhiên khi mùa hè năm 1990 sắp kết thúc, thái độ của Canada quay ngược 180 độ khi nhận thấy triển vọng ngày càng rõ ràng của FTA song phương giữa Mỹ và Mexico. Cuối tháng 8 cùng năm, khi chính quyền G.H.Bush đang vận động quốc hội Mỹ thông qua lịch trình đàm phán FTA với Mexico thì Canada đã yêu cầu được tham gia đàm phán.

Nền kinh tế Canada luôn trải qua những bước thăng trầm giống như nền kinh tế Mỹ. Rõ ràng là tính tương thuộc giữa hai nền kinh tế này rất lớn. Các bằng chứng về chu kỳ kinh tế của Mỹ thập niên 1980 đã cho thấy phần nào câu chuyện đó. Sự thiếu quyết đoán của chính quyền Jimmy Carter đối các vấn đề kinh tế vĩ mô đã đưa nền kinh tế Mỹ rơi vào chu kỳ đi xuống những năm đầu thập niên 1980, tương tự như vậy là tình hình suy thoái ở Canada vào năm 1981. Việc chi tiêu mạnh cho quốc phòng và chính sách thuế hợp lý dưới thời chính quyền Reagan đã tạo ra tỷ lệ tăng trưởng kỷ lục ở Mỹ, đồng thời kích thích kinh tế Canada tăng trưởng trong suốt những năm nửa cuối thập niên 1980. Cũng như vậy khi chính quyền G.H. Bush khiến nền kinh tế Mỹ lâm vào tình trạng khó khăn do thâm hụt ngân sách liên bang lớn thì Canada lại rơi vào cuộc suy thoái kéo dài từ 1989 – 1992. Nếu một FTA ba bên được ký kết, Canada sẽ có điều kiện tiếp cận thị trường Mỹ Latinh thông qua Mexico, tạo thế cạnh tranh tốt hơn trên thị trường khu vực và khắc phục phần nào tình trạng phụ thuộc quá lớn vào thị trường Mỹ. Bên cạnh đó, các quan chức thương mại cho rằng nếu Canada không tham gia thì Mỹ sẽ trở thành trung tâm của thoả thuận trục và nan hoa ở Bắc Mỹ, khi đó Canada sẽ mất đi vị trí đàm phán tốt trong các hiệp định thương mại tương lai.

Ban đầu cả Mỹ và Mexico không mặn mà lắm với đề nghị của Canada. Mexico cho rằng Canada không nghiêm chỉnh khi thái độ của họ thay đổi quá nhanh và sự có mặt của họ có thể gây ra các vấn đề phức tạp, ảnh hưởng tới sự thành công của FTA đầu tiên mà Mexico ký kết. Quan điểm này cũng được phía Mỹ chia sẻ, Chủ tịch Uỷ ban Tài chính Thượng viện, Thượng nghị sĩ Lloyd Bentsan ví von “Khi mà tôi và vợ tôi giải quyết chuyện gì đó, chúng tôi không muốn có mặt người thứ ba” [14].  Sự hứa hẹn của một thị trường có sức mua tương đương Mỹ cũng đã thuyết phục được Mexico. Tháng 1/1991 cả 3 nước nhất trí về việc đàm phán tay ba, tạo cơ sở cho sự ra đời của NAFTA.

Chính quyền ba nước, đặc biệt là Mỹ, đã nỗ lực thúc đẩy quá trình đàm phán và hy vọng sẽ kết thúc vào cuối năm 1991 hoặc muộn lắm là vào đầu năm 1992 trước khi chiến dịch tranh cử tổng thống bắt đầu ở Mỹ. Tuy nhiên mục tiêu này đã không đạt được do có quá nhiều vấn đề cần giải quyết.

* Các vấn đề trong quá trình đàm phán NAFTA

     Sự hình thành NAFTA cho dù được hậu thuẫn bởi nhiều lý do kinh tế quan trọng song cũng có khá nhiều vấn đề khiến sự ra đời của NAFTA nhiều lúc đứng trước sự tranh cãi quyết liệt. Sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các nước là nguồn gốc của những tranh cãi này. Trong khi Mỹ và Canada là hai quốc gia phát triển thuộc nhóm G7, với trình độ công nghệ cao và năng lực kinh tế khổng lồ, thì Mexico vẫn là một nước đang phát triển với GDP bình quân đầu người mới thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình (trên 6000 USD). Các quan ngại này được cụ thể bằng các cuộc tranh luận xoay quanh sự khác biệt về mức lương, các yêu cầu môi trường sẽ tác động như thế nào đối với sự tồn tại của các DN và tình trạng thất nghiệp giữa một bên là quốc gia hàng đầu trong thế giới tư bản phát triển và một bên là Mexico, một quốc gia vẫn thuộc thế giới thứ ba.

     Thứ nhất, nhiều nhà hoạch định chính sách cho rằng, Mỹ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát kinh tế vĩ mô, ví dụ như vấn đề thất ngiệp, cán cân thanh toán,… do công nhân Mỹ không thể cạnh tranh với các công nhân Mexico. Số liệu thống kê cho thấy chênh lệch mức lương khá lớn giữa các nhóm lao động ở các kỹ năng chuyên môn khác nhau ở Mỹ và Mexico. Đối với nhóm lao động chưa qua đào tạo mức lương chênh lệch chỉ là 57 cent, còn đối với lao động đã được đào tạo mức chênh lệch rất lớn 3,80 USD cho 1 giờ lao động. Như vậy, sự cạnh tranh đối với các công ty Mỹ trong các ngành sử dụng nhiều lao động (ví dụ như dệt may, giày dép, sản xuất đồ gỗ,… ) sẽ rất khốc liệt.

    Thứ hai, việc ký kết thoả thuận thương mại tự do với Mexico sẽ cuốn hút các nhà đầu tư Mỹ sang Mexico do các tiêu chuẩn kỹ thuật và những yêu cầu sản xuất không khắt khe như ở Mỹ, đặc biệt là các vấn đề môi trường. Thực tế đã cho thấy, trước khi NAFTA ra đời đã có hàng loạt các DN Mỹ đổ xô đến Maquiladora đầu tư xây dựng nhằm tận dụng các yêu cầu “không đáng kể” của Mexico về tiêu chuẩn môi trường, tránh chi phí cao ở Mỹ.

      Hệ quả tổng hợp của các vấn đề nêu trên là khả năng tìm kiếm việc làm sẽ khó khăn hơn đối với lao động Mỹ. Xét về mặt địa lý, các bang bị ảnh hưởng lớn nhất khi tham gia NAFTA là các bang thuộc vùng Trung Tây, phía Nam và một phần các bang phía Tây. Dự báo bang Ohio sẽ mất khoảng 406.667 việc làm, tương ứng với 9,3% mức thất nghiệp gia tăng của toàn liên bang.

       Để giải quyết các tranh cãi nêu trên, Đại diện Thương mại Mỹ Carla Hills đã mang tới bàn đàm phán những yêu cầu rất cao. Chiến lược đàm phán của Mỹ là lấy CUSFTA làm điểm khởi đầu và nếu có thể thì mở rộng phạm vi của hiệp định NAFTA tương lai. Các nhà đàm phán Mỹ đã tỏ rõ thái độ về một hiệp định có tính chất toàn diện, mở cửa thị trường tối đa trong tất cả các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và đầu tư. Đồng thời các yếu tố có tính chất đảm bảo cạnh tranh công bằng cũng được đề cập tới với những yêu cầu rất cao như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chi tiêu chính phủ và cơ chế giải quyết tranh chấp.

    Song song với các vấn đề nêu trên, trong quá trình đàm phán ký kết NAFTA, cũng còn nhiều bất đồng giữa Mỹ và hai đối tác còn lại. Đối với Mỹ, mục tiêu quan trọng nhất là mở cửa thị trường và biện pháp thực hiện là hạn chế đến mức tối đa các hàng rào thương mại và tự do hoá thương mại trên cơ sở bình đẳng và tối huệ quốc, thì đối với Mexico, tuy đồng ý về nguyên tắc giảm dần các hàng rào thương mại nhưng họ lại muốn bảo vệ một số ngành sản xuất quan trọng đang trong giai đoạn xây dựng cho đến khi đạt được khả năng cạnh tranh nhất định. Mexico đã không chấp nhận mở cửa thị trường đầu tư đối với lĩnh vực khai thác và sản xuất dầu mỏ (lĩnh vực họ đã quốc hữu hoá từ năm 1938). Canada thì muốn hạn chế mở cửa một số lĩnh vực nông sản, đồng thời, loại bỏ các sản phẩm liên quan đến văn hoá với lý do bảo vệ bản sắc trước sự xâm nhập ngày càng mạnh của văn hoá Mỹ.

  Những vấn đề trên đã kéo dài quá trình đàm phán, tới cuối tháng 8/1992 các bên mới đạt được thoả thuận. Thời điểm đó chỉ còn cách cuộc bầu cử tổng thống và hạ viện Mỹ có 3 tháng, vào thời gian đó quốc hội Mỹ không còn tâm trí để xem xét bất cứ một hiệp định nào do cần tập trung vào các cuộc bầu cử rất quan trọng. NAFTA thậm chí còn là vấn đề tranh luận giữa các ứng cử viên tổng thống theo những chiều hướng khác nhau, bảo hộ và tự do hoá mậu dịch. Nếu chính quyền Mỹ rơi vào tay những người theo chủ nghĩa bảo hộ như ứng cử viên tổng thống độc lập, tỷ phú Ross Perot thì tương lai của NAFTA không thể đoán định. May mắn là chính quyền Mỹ đã thuộc về tay Bill Clinton một vị tổng thống theo chủ nghĩa quốc tế. Lúc này quyền đàm phán nhanh vẫn còn hiệu lực (được trao cho chính quyền G.H.Bush từ năm 1988, đến năm 1991 đã được quốc hội Mỹ nhất trí mở rộng thêm 2 năm), vì vậy NAFTA chỉ còn chờ quốc hội Mỹ phê chuẩn là hoàn tất thủ tục.

Ngày 1/1/1994, Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ NAFTA chính thức có hiệu lực sau khi được các cơ quan hành pháp của Mỹ, Canada và Mexico phê chuẩn. NAFTA được đưa vào thực thi đã tạo ra một thị trường hàng hoá và dịch vụ lớn nhất thế giới về sức tiêu thụ với số dân khoảng 400 triệu người và GDP thực tế khoảng 8.500 tỷ USD

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2003), Chủ nghĩa quốc tế Mỹ, Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tập 8, số 1, tháng 8/2003.

  1. Martin Rama (2004), “Các thoả thuận thương mại khu vực. Hệ luỵ và các lựa chọn chính sách”, Báo cáo Hội thảo “Xu hướng mậu dịch tự do song phương, tác động và giải pháp chính sách đối với Việt Nam”, Bộ Ngoại giao Việt Nam 26/07/2004.
  2. Bùi Thành Nam (2002), “NAFTA và những tác động đối với nền kinh tế Mỹ”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, (số 11), 3-8.
  3. Radall B. Ripley và James M.Lindsay (2002), Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau Chiến tranh lạnh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  4. Thomas J.McCormick (2004), Nước Mỹ nửa thế kỷ – Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong và sau Chiến tranh lạnh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Tiếng Anh

  1. Anne O.Krueger (1999), Trade Creation and Trade Diversion Under NAFTA, National Bureau of Economic Research, Cambridge.
  2. Christian Stracke (2003), “Mexico – The Sick Man of NAFTA”, World Policy Journal, (No.6).
  3. Derek H.Burney (2003), “The Canada/US Economic Relationship: From FTA to NAFTA to ????”, Canada – United States Law Journal, Vol.29 (No.43).
  4. Donny Tang (2005), “Effects of the Regional Trading Arrangements on Trade: Evidences from the NAFTA, ANZERTA and ASEAN Countries, 1989-2000”, J.Int. Trade & Economic Development, Vol. 14 (No.2).
  5. Earl H. Fry (2003), “North American Economic Integration: Policy Options, Policy Papers on the Americas”, Center for Strategic and International Studies, Vol XIV, Study 8.
  6. Frederick W.Mayer (1998), Interpreting NAFTA: The Science and Art of Political Analysis, Comlumbia University Press, Boston.
  7. Freeman III, A.Myrick (1971), International Trade: An Introduction to Method and Theory, Harper and Row, New York.
  8. Gary C.Hufbauer and Yee Wong (2003), “Security and the Economy in the North American Context: The Road ahead for NAFTA”, Canada – United States Law Journal, Vol.29 (No.53).
  9.  Jagdish Bhagwati & Arvisd Panagariya (1996), The Economics of Preferential Trade Agreement, American Enterprise Institute, Wasshington. DC.
  10. Louis Boelanger (2000), U.S. Foreign Policy and the Regionalist Option in the Americas, Texas University, Dallas.
  11. Mia Mikic (1998), International Trade, St. Martin,s Express, New York.
  12. Norris Clement, Gustavo del Castillo Vera, James Gerber, William A.Kerr, Alan J. MacFadyen, Stanford Shedd, Eduado Zepeda, Diana Alarcons (1999), North American Economic Integration – Theory and Practice, Edward Elgar Publishing Limited, Northampton, Massachuset.
  13. United States Trade Representative (2003), Statistical Abstract of the United States,Washington DC.

[2] Frederick W.Mayer (1998), Interpreting NAFTA: The Science and Art of Political Analysis, Comlumbia University Press, Boston, trg8

[4] Mia Mikic (1998), International Trade, St. Martin,s Express, New York, trg 494

[6] Frederick W.Mayer (1998), Interpreting NAFTA: The Science and Art of Political Analysis, Comlumbia University Press, Boston, tr 10

[8] Frederick W.Mayer (1998), Interpreting NAFTA: The Science and Art of Political Analysis, Comlumbia University Press, Boston, trg 160

[10] Donny Tang (2005), “Effects of the Regional Trading Arrangements on Trade: Evidences from the NAFTA, ANZERTA and ASEAN Countries, 1989-2000”, J.Int. Trade & Economic Development, Vol. 14 (No.2), trg 13

[12] Frederick W.Mayer (1998), Interpreting NAFTA: The Science and Art of Political Analysis, Comlumbia University Press, Boston.

[14] Anne O.Krueger (1999), Trade Creation and Trade Diversion Under NAFTA, National Bureau of Economic Research, Cambridge, trg 9

[15] United States Trade Representative (2003), Statistical Abstract of the United States,Washington DC, trg 23

Comments  

 
0 #1 chụp hình quay phim 2017-08-18 12:31
House Báo Giá Báo giá quay phim chụp ảnh phóng sự cưới.
Quote
 
 
0 #2 biomac comprar 2018-08-08 13:36
A artrose é só moléstia das articulações.
Quote
 

Add comment


Security code
Refresh

Thống

Các thành viên : 684
Nội dung : 635
Liên kết web : 1
Số lần xem bài viết : 1388433